Các mẫu hình giá phổ biến trong Phân Tích Kỹ Thuật

Về nguyên tắc của các mẫu hình giá kỹ thuật (Chart Patterns):

  • “ Lịch sử sẽ lặp lại chính nó” như trong phần giả định cơ sở của PTKT, tức hành vi và tâm lý của con người là không thay đổi hoặc thay đổi rất chậm, cái này là thực tế không chỉ ở Việt Nam mà TT quốc tế cả trăm năm này rồi nên mới có kiểu áp dụng các mô hình giá vào việc phân tích.
  • Bản chất của các mẫu hình giá kỹ thuật đều dựa vào nền tảng của cách xác định xu hướng giá chứng khoán để từ đó tìm các vùng Break Out, Down. Khoảng thời gian phía trước cho đến các vùng Break Out, Down đó được các nhà PTKT quan sát từ nhiều biểu đồ, lịch sử gần trăm năm rút ra các mẫu hình giá có khả năng lặp lại nhiều lần và đặt theo các tên gọi như Vai Đầu Vai, 2 Đáy, 2 Đỉnh, Cốc tay cầm…, và thực tế trải nghiệm của tác giả cũng đánh giá cao độ tin cậy của một vài mẫu hình giá.

Kênh xu hướng (Price channel)

Ta đã biết ý nghĩa của đường Trendline trong phần trước, về phần kênh xu hướng nó được cấu tạo bởi đường Trendline và đường kẻ song song với nó nối các đỉnh hoặc đáy tùy thuộc vào xu hướng hiện tại.

Ở kênh xu hướng tăng, thì đường U là đường Trendline nối các đáy với nhau, đường CN là đường Channel line song song với đường Trendline và đi qua đỉnh đối diện.

Ngược lại đối với kênh xu hướng giảm, thì đường D là đường Trendline nối các đỉnh với nhau, đường CN là đường Channel line song song và đi qua đáy đối diện.

Chức năng của kênh xu hướng để xác định các vùng hỗ trợ và kháng cự của TT, CP, ngoài ra còn là việc xác định các vùng Break out, Break down của TT hay CP đó.

Trên là ví dụ về kênh xu hướng của HNXindex biến động giai đoạn giữa cuối năm 2016 đến nay

Nối đỉnh 1 và 3 ta xác định được Trendline của xu hướng giảm, kẻ đường song song với đường Trendline đi qua đáy 2 tạo thành đường Channel line.

Với kênh xu hướng giảm này ta thấy ngoài vùng 4 là vùng kháng cự của TT thì vùng 5,6 cũng trở thành vùng hỗ trợ. Tại vùng 7 TT đã có những phiên break out để thoát khỏi kênh xu hướng giảm.

Mẫu hình Vai Đầu Vai (Head and Shoulders)

Đây là dạng mẫu hình giá đảo chiều của xu hướng chính trước đó.

Đường U là đường Trendline thể hiện xu hướng tăng trước đó.

Đỉnh 1 được gọi là vai trái, đỉnh 2 là bắt buộc phải là đỉnh cao nhất của mô hình này, và đỉnh 3 thấp hơn gọi là vai phải.

Đường 4 gọi là đường neckline, đối với hình vẽ trên thì đây tương ứng với đường hỗ trợ ( ngược lại đối với mô hình VĐV ngược thì đường neckline là kháng cự), vùng 5 là vùng mà giá test lại đường hỗ trợ 4 và sau đó bị phá ( break down).

Mô hình Vai Đầu Vai bao gồm có 2 loại : Đầu và 2 vai đỉnh để xác định điểm ra và đầu và 2 vai đáy để xác định điểm vào.

Trên chart là ví dụ về mô hình VĐV ngược của Vnindex vào thời điểm cuối tháng 04/2016

Đường D thể hiện xu hướng giảm của TT.

Đáy 1 là vai trái, đáy 2 cũng là đáy thấp nhất của TT ở mức điểm 510-520, đáy 3 cao hơn và là vai phải của mô hình.

Đường 4 là đường neckline cũng là đường kháng cự của mô hình, tại vùng 5 là vùng mà TT đã break out khỏi đường kháng cự cũng như hình thành mô hình VĐV ngược.

Một điều cần để ý khi sử dụng mô hình này hay đối với các mô hình kỹ thuật khác là kết hợp với khối lượng GD (volume), như quan sát trên Chart thì tại vùng mà TT break out thì tương ứng các cột volume cũng tăng cao hơn so với trung bình volume 1 tháng.

Mẫu hình Cốc và Tay Cầm ( Cup with Handle)

Đây là mẫu hình được William O’Neil (một nhà đầu tư nổi tiếng với PP đầu tư CANSLIM) phát kiến ra. Khác với mẫu hình VĐV trình bày ở trên là mô hình đảo chiều thì mô hình này chỉ để tìm điểm Vào của TT hay CP và là 1 mô hình tiếp diễn xu hướng tăng trước đó.

Xu hướng 1 là xu hướng tăng trước đó của TT, sau khi tạo đỉnh tại 2 thì TT biến động theo dạng chiếc cốc (3), và tạo đỉnh cốc tại 4, sau đó TT biến động nhẹ tạo hình dạng giống chiếc tay cầm của cốc.

Đường N là đường neckline của mô hình và cũng là đường kháng cự, TT break out đường kháng cự tại vùng 5.

Chart trên là ví dụ về chart tháng của Vnindex

Dường U thể hiện xu hướng tăng trước đó của TT, sau khi tạo đỉnh 1 thì TT biến động theo dạng cốc 2, và tạo đỉnh tại 3, sau đó TT biến động theo dạng tay cầm 4.

Đường N là đường neckline của TT nối 2 đỉnh 1 và 3 và cũng là đường kháng cự của TT. Vùng 5 là vùng mà TT break out sau khi vượt qua đường kháng cự N để hoàn thành mô hình cốc tay cầm và yếu tố để gia tăng độ tin cậy của mô hình là volume trung bình vùng 5 là cao hơn so với trung bình 12 tháng (năm).

Một vài lưu ý thêm với mô hình này là:

  • Thời gian hình thành tay cầm thông thường nhỏ hơn 1/3 so với thời gian hình thành cốc.
  • Và việc tay cầm có thể được xác định bằng các mẫu hình giá ngắn hạn như cờ … hay đo bằng tỷ lệ Fibonacci, một tay cầm điều chỉnh không quá 50% so với xu hướng tăng của cốc phía trước( các bạn có thể tự tham khảo thêm).

Mẫu hình 2 Đáy (Double Bottom), 2 Đỉnh (Double Top)

Mẫu hình 2 đáy, 2 đỉnh là một mẫu hình đảo chiều có độ tin cậy khá cao, được hình thành sau 1 xu hướng giảm (2 Đáy) và xu hướng tăng (2 Đỉnh).

Ở mô hình 2 Đáy, xu hướng trước đó là xu hướng giảm, tại vùng B1 là đáy 1, B2 là đáy 2, đường  ngang N nối đỉnh giữa 2 đáy là đường neckline và cùng là đường kháng cự của TT, vùng O là vùng mà TT Breakout. Tương tự như vậy ở mô hình 2 Đỉnh.

Thời gian hình thành mẫu hình này ít nhất 1 tháng trở lên.

Ví dụ về mẫu hình 2 Đáy (Double Top) ở Vnindex giai đoạn tháng 06/2015

Các mẫu hình Tam giác: Tam giác hướng lên (Ascending Triangle), Tam giác hướng xuống (Descending Triandle), Tam giác cân ( Symmetrical Triangle)

Các mẫu hình tam giác là các mẫu hình tiếp diễn của xu hướng chính trước đó.

Cũng giống như các mẫu hình khác, thì các mẫu hình tam giác được hình thành dựa trên khái niệm về kháng cự và hỗ trợ.

Trên chart là ví dụ về mẫu hình tam giác hướng lên của Vnindex thời điểm hiện tại

Trong đó đường U là xu hướng tăng trước đó của TT, sau khi tạo đỉnh 2 và đáy 3, thì đường ngang nối đỉnh 2 trở thành kháng cự của TT và tạo các vùng đỉnh 3,4,5. Sau đó TT điều chỉnh và đường chéo nối đáy 1,3 trở thành đường hỗ trợ của TT tại đáy 7.

TT lên lại vùng kháng cự cũ và đã có những phiên Break out tại 8. Một điều lưu ý đối với trường hợp này là TT break out nhưng yếu tố khối lượng (volume) lại không cao quá trung bình nên khả năng cao TT sẽ test lại vùng hỗ trợ, tức vùng kháng cự cũ (680-690).

Một vài lưu ý với mẫu hình tam giác:

  • Thời gian hình thành một mẫu hình tam giác kéo dài từ 1 tháng đến dưới 6 tháng, và độ tin cậy của các mẫu hình này theo kinh nghiệm của tác giả thì không cao bằng các mẫu hình trình bày ở trên.
  • Yêu cầu phải có ít nhất 2 đáy đối với các đường ngang là hỗ trợ của mô hình tam giác hướng xuống và 2 đỉnh là kháng cự của mô hình tam giác hướng lên trước các điểm đảo chiều.

Trên là một vài mẫu hình giá mang tính chất trung hạn và hay xuất hiện ở TT Việt Nam và có độ tin cậy tương đối cao, tất nhiên còn nhiều mẫu hình giá khác, nhưng độ xuất hiện không nhiều và nhiều mẫu hình thì mang tính chất ngắn hạn nên độ tin cậy chưa cao nên tác giả không đưa vào.


Nguồn: http://chungkhoanblog.com/chung-khoan/phan-tich-chung-khoan/phan-tich-ky-thuat/cac-mau-hinh-gia-pho-bien-trong-phan-tich-ky-thuat/

Xác định xu hướng, hỗ trợ và kháng cự trong Phân tích kỹ thuật

Đầu tiên khi vào TT phải xác định được Trend ( xu hướng)

Mọi thông tin phản ánh vào giá, nhưng giá ko vận động ngẫu nhiên mà nó vận động theo xu hướng.

Khi giá lê lết đi lên thì gọi là uptrend ( xu hướng tăng), và đâm đầu lao xuống gọi là downtrend (xu hướng giảm), giá vận động trong biên độ hẹp được gọi là sideway (xu hướng đi ngang) trước khi nó bốc đầu hay đâm đầu. Và PTKT sinh ra để tìm kiếm Trend( với chứng khoán Việt Nam thì chỉ có uptrend, hay đôi lúc cả TT sideway nữa là kiếm được tiền thôi).

Tất nhiên là thời gian quan sát phải đủ dài thì mới xác định được Trend, tùy vào khung thời gian quan sát đó mà xác định Trend ngắn hạn, trung hạn, dài hạn và dựa vào đó để phân bổ danh mục cho phù hợp. Khung thời gian càng dài thì đánh giá Trend càng chuẩn,và Trend càng bền, nhược điểm là độ trễ lớn, Việt Nam thì chỉ coi dailly và weekly thôi, còn các khung thời gian dài như yearly thì data chưa đủ, vì TT Việt Nam mới chỉ bắt đầu từ năm 2000, data trong phiên thì TT Việt Nam thanh khoản chưa đủ cao để mà đánh giá chuẩn xác được.

Khi tham gia TT chúng ta thường thấy nhiều người tự nhận là những chuyên gia lướt sóng, có thể lướt trên mọi thể loại sóng từ lớn cho đến bé tí ti.chỗ nào cũng có mặt họ cả. Nói vui chứ quan điểm của tác giả, là khi đã xác định được trend thì nên chơi bao nhiêu tiền, và khi TT đã gãy thì đón chúng ta phía trc là những con sóng lăn tăn(pullback) thì chúng ta có chấp nhận đứng ngoài hay không, hoăc chấp nhập tham gia tối đa bao nhiêu tiền (50% chẳng hạn, tùy người). Việc kết hợp phân bổ nguồn vốn với phân tích kỹ thuật sẽ hạn chế nhiều rủi ro khi tham gia TT, bởi ta biết trong phần trước rằng PTKT chỉ mang tính xác suất.

  • Xu hướng tăng thì đáy sau cao hơn đáy trước, ngược lại xu hướng giảm thì đỉnh sau thấp hơn đỉnh trước.
  • Nối các điểm đáy với nhau (uptrend), hoặc các đỉnh với nhau (downtrend) sẽ trở thành đường trendline của xu hướng đó ( qua càng nhiều điểm thì trend đó càng mạnh).

Muốn kiếm tiền thì rõ ràng phải có Trend, mà PTKT sinh ra để tìm Trend. Nhưng không lẽ trong con sóng năm ngoái (2016) đến tháng 09 ta kẻ đường xu hướng rồi nói rằng, ta đang ở uptrend rồi hô hào mua mạnh thôi ( cái đó ai không biết nữa), mà bây giờ nhìn lại thì nếu lúc đó mới bắt đầu tham gia thì còn gì mà ăn nữa, thực sự là gặm xương không thôi.

 Và “Hỗ trợ và Kháng cự” sinh ra để giúp ta nhận diện sớm được trend.

Khi giá lên mà đụng phải cái vùng nào đó mà lượng cung hàng bán ra nhiều rồi giá giảm xuống gọi là kháng cự (resistance), khi giá xuống mà chạm cái vùng nào đó mà lượng cầu tham gia rồi đẩy giá bật lại gọi là hỗ trợ (support). Nói chung là Đụng,Chạm càng nhiều thì nó càng cứng , lý thuyết là như thế và thực tế chắc là cũng như vậy, mọi người thực hành nhiều đi là biết, hehe, ý mình ở đây là cái vùng hỗ trợ, kháng cự đó càng mạnh.

Một vài lưu ý của hỗ trợ và kháng cự:

  • Hỗ trợ, kháng cự sinh ra để bị phá, phá kháng cự thì ném tiền vào(mua mạnh) các phiên này gọi là break out, phá hỗ trợ thì ngược lại, cần 1 lượng lớn CP bán ra (break down).
  • Khi vùng kháng cự bị phá nó sẽ trở thành vùng hỗ trợ mới, và ngược lại.

Ví dụ về VNindex ( vùng kháng cư được bôi đỏ, vùng hỗ trợ màu xanh)

Vùng 1 gọi là vùng break out khỏi xu hướng giảm phía trước của TT( từ đỉnh TT cuối 2009 đến đầu 2012), vùng 2, giá thoát khỏi vùng kháng cự của TT 510-520, và vùng này sau đó đã trở thành vùng hỗ trợ mạnh cho TT ở vùng 3 và các vùng tiếp theo trên biểu đồ. Vùng 4 (07/2016) là vùng TT break out khỏi vùng kháng cự lịch sử của TT 630-640.

Về vẽ trend, đường cản… thì với tác giả nên vẽ qua càng nhiều điểm càng tốt, khi nhận định thì nên nhận định theo vùng chứ đừng nhận định tại 1 điểm nhất định.

Nói chung nhiều cách để xác định hỗ trợ, kháng cự.. nhưng nên đơn giản 1 chút, chứ đừng cái gì cũng vẽ, cũng đưa vào, thì nhìn thật rối mắt.

Ngoài việc kẻ trendline, đường ngang để xác định hỗ trợ kháng cự ra, thì còn có 1 PP khác để xác định trend, hỗ trợ, kháng cự đó là dùng đường MA.

Vậy MA(moving average) là gì, MA là đường trung bình, vấn đề là trung bình của cái gì, mình dân CK thì rõ ràng là trung bình của giá CK trong n ngày. Có nhiều loại MA, nhưng tác giả chỉ dùng loại đơn giản nhất là SMA, tức là trung bình cộng của giá.

Việc dùng thông số n nào là tùy thuộc mỗi người thấy phù hợp, bản thân tác giả hay dùng MA(50), có 1 số thông số khác như MA(5), MA(20)… tương ứng với 1 tuần, 1 tháng GD.

  • Nếu giá nằm trên đường MA thì TT,CP đó đang thể hiện xu hướng tăng và ngược lại, và đường MA còn được dùng để xác định các hỗ trợ và kháng cự của TT,CP đó.
  • Giống như việc xác định trend ở trên, thì việc dùng thông số càng dài thì việc đánh giá trend càng chuẩn, nhưng độ trể lại lớn hơn so với việc dùng MA ngắn.
  • Có thể kết hợp nhiều đường MA trên cùng khung chart, để xác định xu hướng ngắn, trung, dài hạn của TT.

Chart trên là việc ví dụ kết hợp MA(50) vào việc xác định trend của VNindex.

Vùng 1 là vùng breakout của TT khỏi xu hướng giảm phía trước khi giá tăng từ dưới lên và nằm trên MA(50), và MA(50) lúc này không còn là kháng cự nữa mà chuyển thành vùng hỗ trợ như vùng 2 và các vùng xanh tiếp theo.

Tại vùng 3, TT giao dịch tại vùng hỗ trợ MA(50) 1 thời gian, nhưng khác với các lần khác thì giá không bật lại mà lại giảm xuống, TT gãy xu hướng tăng và chuyển sang xu hướng mới (sideway hoặc downtrend), và MA(50) lúc này trở thành vùng kháng cự của TT như vùng 4, tại vùng 5, TT đã break out khỏi xu hướng sideway phía trước, và đến thời điểm cuối tháng 01/2017 vẫn tiếp tục xu hướng tăng đó.

Rõ ràng việc vẽ trendline, hỗ trợ, kháng cự thì rất đơn giản, và ít mất thời gian, 1 phút là xong hay việc dùng MA thì cứ măc định thế, đôi lúc nhiều người không cần vẽ cũng hình dung ra được. Như ta biết, thì việc vẽ trendline thì mỗi người mỗi kiểu do cách xác định khung thời gian hay việc không có 1 thông số MA nhất quán do mỗi người lựa chọn thông số phù hợp, nhưng quan trọng nhất ở đây là nguyên tắc giao dịch, như trong đề cập phần trước cần có sự tuân thủ nguyên tắc của mình đặt ra để Vào,Ra khi TT hay CP vượt kháng cự, gãy hỗ trợ mà không có sự thay đổi khi lại vẽ 1 đường trendline khác hay hiệu chỉnh 1 thông số MA dài hơn…để bảo vệ cho quan điểm của mình (kế hoạch chính khi vào CP đó).

Tổng kết lại, bạn cũng có thể xác định các vùng để tham gia( break out) hay thoát khỏi TT (break down), tuy nhiên nên kết hợp với các yếu tố khác, khối lượng giao dịch (volume) là yếu tố cần thiết để xác nhận cho các CP đó khi break out có độ tin cậy cao hay không. Ngoài ra, còn việc kết hợp với các mẫu hình giá hay chỉ báo kỹ thuật vào để tìm các vùng vào,ra TT để gia tăng hiệu quả đầu tư, phần này sẽ được tác giả trình bày trong phần sau.

Nhưng đánh giá của tác giả thì chỉ cần hiểu rõ, thực hành và có nguyên tắc 2 phần này sẽ giúp cho bạn tự tin hơn rất nhiều khi chinh chiến trên TT, mặc dù phần sau bao gồm nhiều mẫu hình giá kỹ thuật hay có rất nhiều các chỉ báo khác nhau, nhưng chúng cũng chỉ giống như vô vàn các loại vũ khí mà thôi, nếu không bỏ thời gian luyện nội lực, chiêu thức thì việc cho bạn 1 vũ khí sắc bén cầm trên tay cũng như không thôi.

Nguồn: http://chungkhoanblog.com/chung-khoan/phan-tich-chung-khoan/phan-tich-ky-thuat/xac-dinh-xu-huong-ho-tro-khang-cu-trong-phan-tich-ky-thuat/

Chiến lược theo xu hướng đơn giản với đường trung bình và Parabolic SAR

Nếu bạn đang tìm kiếm kiếm 1 chiến lược theo trend dài với tín hiệu lệnh cực kỳ đơn giản thì bạn có thể tham khảo bài viết này. Chiến lược này sẽ tối giản hóa tín hiệu vào lệnh, và có vẻ rất phù hợp với những newbie – trader mới.

upload_2018-9-25_16-22-36.

Chỉ báo cần có trong chiến lược

Bạn sẽ cần 3 chỉ báo với chiến lược này:

  • EMA 20
  • EMA 40
  • Prabolic SAR mặc định

Quy tắc vào lệnh

Với long: Điều kiện cần để có thể buy đầu tiên là xu hướng tăng. Hãy quan sát khi EMA 20 cắt lên trên EMA 40. Tiếp theo, hãy đợi nến chạm vào EMA 20 nhưng giá đóng cửa trên 20. Đồng thời Parabolic SAR nằm dưới nến tín hiệu

upload_2018-9-25_16-26-4.

Với Short: EMA 20 cắt và nằm dưới EMA 40 là điều kiện bắt buộc để xác nhận thị trường down-trend. Tiếp theo, chúng ta cần nến chạm vào EMA 20 nhưng phải đóng cửa dưới EMA 20. Đồng thời Parabolic SAR cũng nằm trên nến tín hiệu.

upload_2018-9-25_16-29-31.

Quy tắc thoát lệnh

Bạn chắc chắn phải thoát lệnh khi 2 EMA này cắt nhau 1 lần nữa. SL bạn có thể đặt trên đỉnh/đáy của nến tín hiệu, nên đặt xa hơn 1 chút để tránh bị quét. Với SL bạn có thể đặt TP tùy theo tỉ lệ R:R mong muốn, tất nhiên bạn cũng có thể trailing nếu cảm thấy cần thiết.

Chúc bạn thành công với chiến lược này.

Hệ thống săn xu hướng lớn chỉ với ba đường MA

Hôm nay, tôi sẽ chia sẻ một hệ thống liên quan đến đường MA có tên là THE TREND HUNTER SYSTEM, dịch ra tiếng Việt là Hệ thống Săn Xu hướng. Hệ thống này được phát triển bởi một trader có tên là Roberto Alvarez, đây là địa chỉ email của tác giả nếu các bạn có thắc mắc gì về hệ thống: lorito2000@hotmail.com. Tôi sẽ chia sẻ lại hệ thống này cho các bạn, sau khi đọc xong nếu có nhu cầu về bản tiếng Anh thì comment phía dưới để tôi gửi lại, lưu ý đừng comment email để tránh bị spam, vì tôi không bao giờ gửi tài liệu qua email.

Sau đây là nội dung của hệ thống.

Tôi nghĩ dù có sáng tạo ra bao nhiêu phương pháp giao dịch đi chăng nữa thì cũng chỉ dựa vào hai phương pháp căn bản nhất: một là đi theo trend, hai là giao dịch đảo chiều. Đi theo trend lúc nào cũng khôn ngoan vì tận dụng lợi thế và sức mạnh của thị trường. Do đó, tôi vẫn khuyên các bạn xem trend là người bạn thân nhất của mình.

HỆ THỐNG SĂN XU HƯỚNG CHỈ VỚI HAI ĐƯỜNG MA

Tôi sẽ đi từng bước một để các bạn có thể hiểu rõ ràng nhất, mặc dù hệ thống này cũng rất đơn giản chứ không có gì phức tạp.

Đầu tiên, chúng ta sẽ sử dụng đường EMA 70 kỳ. Nghe lạ đúng không, trước giờ có ai dùng 70 kỳ đâu, nhưng đây là sự thống kê lại của tôi, tôi đã test đường EMA với các kỳ khác nhau, nhưng EMA 70 là phù hợp nhất với hệ thống này.

Điểm khác biệt là chúng ta sẽ thêm hai biên cho EMA này theo thông số -7 và + 7. Setup sẽ như chart dưới đây:

1.

Xin nói thêm là hệ thống này dùng tốt cho tất cả các khung thời gian, khung lớn thì xu hướng đỡ nhiễu hơn là khung nhỏ. Tác giả thì thích giao dịch khung M5 và M15, nên chắc khung nhỏ giao dịch dùng vẫn tốt.

Bây giờ, chúng ta cần phải cài thêm 2 đường MA nữa là xong:

1. EMA 20 kỳ tính theo giá High (để màu tím)

2. EMA 20 kỳ tính theo giá Low (để màu vàng)

Tùy các bạn muốn để màu nào, nhưng tôi để màu như vậy diễn tả cho dễ.

Với ba đường MA này thì EMA 70 sẽ đóng vai trò chỉ xu hướng lớn. Còn hai đường EMA nhỏ sẽ tạo thành vùng để vào lệnh gọi là Entry Range MAs.

Nghe có vẻ phức tạp, nhưng nó đơn giản lắm, sau khi cài đặt hoàn tất, chart của chúng ta sẽ như thế này:

2.

Lưu ý một lần nữa, hệ thống này dùng để giao dịch theo xu hướng. Nếu thị trường không có xu hướng rõ ràng thì không vào lệnh nhé các bạn. Những lúc như vậy thì nên tìm cặp tiền khác hoặc bỏ đi chơi cho đỡ phải lăn tăn.

Sau đây sẽ là các quy tắc vào lệnh

QUY TẮC VÀO LỆNH BUY

Chúng ta sẽ vào lệnh BUY khi thỏa các điều kiện sau:

1. Giá nằm dưới đường EMA 70 và bắt đầu tăng lên. Đặt lệnh khi cây nến đầu tiên đóng cửa bên trên đường EMA 70 (dĩ nhiên nó phải nằm trên cả hai đường EMA 20.

2. Nếu giá đang nằm trên tất cả đường MA thì phải kiên nhẫn chờ cho đến khi nó hồi về vùng tạo bởi hai đường EMA 20 và tăng lên trở lại thì mới được đặt lệnh.

Do đó, vùng tạo bởi hai đường MA 20 chính là vùng đặt lệnh của chúng ta, một khi EMA 70 vẫn còn chỉ báo tăng.

3. Có hai cách đặt stoploss:

+ Nếu bạn là trader thận trọng và ngại rủi ro, thì bạn nên trailing stop theo đường EMA 70.

+ Nếu bạn là trader mạo hiểm, chấp nhận drawdown một chút để ăn hết con sóng lớn thì trailing stop theo EMA 20 Low (màu vàng)

Tùy vào độ biến động của thị trường (bạn có thể dùng ATR để đo lường), bạn sẽ đặt trailing stop cách MA một khoảng từ 15 – 20 pips.

3.

QUY TẮC VÀO LỆNH SELL

Tương tự như quy tắc BUY, chúng ta sẽ có những quy tắc SELL y chang như vậy.

Lưu ý cuối cùng, cũng là lưu ý quan trọng nhất: nếu các bạn trade khung M15 hoặc M5, thì chỉ nên trade sau 2:00 a.m giờ New York hay nói cách khác là bắt đầu vào phiên Âu.

10 Quy tắc giao dịch theo Phân tích kỹ thuật của John Murphy

John Murphy được xem là một trong những bậc thầy về phân tích kỹ thuật hiện nay của thế giới, 10 quy tắc vàng trong giao dịch dưới đây của John Murphy đã trở nên nổi tiếng trong giới đầu tư/ đầu cơ trên toàn thế giới.

Sử dụng phân tích kỹ thuật trong giao dịch là một phương pháp khá hiệu quả đối với nhà đầu tư/ đầu cơ trên thị trường chứng khoán . Dựa vào giá và khối lượng trên đồ thị cổ phiếu để xác định xu hướng, tìm điểm mua và bán để kiếm lợi nhuận trong ngắn hạn là chiến thuật khá thông minh đối với những nhà đầu tư/ đầu cơ theo trường phái này.

Những kinh nghiệm cơ bản cho nhà đầu tư trước khi đầu tư chứng khoán

1. Phân tích biểu đồ dài hạn để có bức tranh toàn cảnh về xu hướng thị trường

Hiện nay các CTCK, các trang báo điện tử về chứng khoán như Cafef cung cấp khá nhiều công cụ dùng để phân tích kỹ thuật, nhà đầu tư có thể xem xét biểu đồ giá cổ phiếu dài hạn như theo năm, theo tháng, theo tuần để có thế thấy toàn cảnh về xu hướng của thị trường chung cũng như xu hướng của các mã cổ phiếu mà mình tham gia giao dịch.

Biểu đồ toàn cảnh Vnindex từ năm 2000 đến nay.
Biểu đồ toàn cảnh Vnindex từ năm 2000 đến nay.

2. Xác định xu hướng và đi theo nó

Luôn luôn bám theo xu hướng khi giao dịch nên mua trong xu hướng tăng, bán trong xu hướng giảm, việc giao dịch ngược xu hướng thường dẫn đến mất tiền nhiều hơn và cháy tài khoản nhiều hơn. Một xu hướng tăng thường là đỉnh sau cao hơn đỉnh trước và đáy sau cao hơn đáy trước, cách xác định đường xu hướng này là nối các đáy lại với nhau. Ngược lại, một xu hướng giảm thường là các đỉnh sau thấp hơn đỉnh trước và đáy sau thấp hơn đáy trước đó, cách xác định các đường xu hướng giảm là nối các đỉnh với nhau.

3. Xác định mức hỗ trợ và mức kháng cự

Điểm mua tốt nhất là gần mức hỗ trợ, mức hỗ trợ đó thường là điểm đáy liền trước. Điểm bán tốt nhất là gần mức kháng cự, mức kháng cự đó thường là điểm đỉnh liền trước. Sau khi đỉnh kháng cự bị phá thì thông thường nó sẽ tạo hỗ trợ cho những đợt hồi sau đó. Nói cách khác, mức cao nhất cũ trở thành mức thấp nhất mới.

4. Nhận biết khả năng điều chỉnh đến bao nhiêu

Sự điều chỉnh lên hoặc xuống của thị trường thường nằm trong những phần quan trọng của xu hướng trước, có thể đo sự điều chỉnh trong xu hướng hiện tại theo những tỷ lệ phần trăm đơn giản. Mức hoàn lại 50% của xu hướng trước là phổ biến nhất. Mức hoàn lại tối thiểu thường là 1/3 của xu hướng trước. Mức hoàn lại tối đa thường là 2/3. Cũng cần theo dõi các mức hoàn lại theo tỷ lệ Fibonacci như 38% và 62%. Trong suốt quá trình hồi lại trong một xu hướng tăng giá, điểm mua ban đầu thường nằm trong khu vực hoàn lại 33%-38%.

5. Vẽ các đường xu hướng

Càng xác định rõ xu hướng để mua bán thì việc hạn chế và giảm thiểu rủi ro càng hiệu quả, việc phá vỡ các đường xu hướng thường báo hiệu sự thay đổi về xu hướng. Một xu hướng đúng cần được chạm ít nhất 3 lần. Đường xu hướng có hiệu lực càng lâu và số lần nó bị giá thử thách càng nhiều thì đường xu hướng đó càng trở nên quan trọng.

6. Theo dõi các chỉ số trung bình

Theo dõi các đường trung bình động (MA), các đường này có thể cung cấp tín hiệu mua hoặc bán khách quan, bên cạnh đó còn cho biết xem xu hướng hiện tại vẫn còn di chuyển hay không và xác nhận sự thay đổi xu hướng. Giá cắt lên trên hoặc xuống dưới đường MA 200 ngày cũng tạo ra những tín hiệu giao dịch tốt trong dài hạn. Vì các đường MA là những chỉ báo theo xu hướng nên chúng hoạt động tốt nhất trong thị trường có xu hướng rõ ràng.

7. Nghiên cứu các điểm đảo chiều

Các chỉ báo dao động giúp nhận diện tình trạng vượt mua và vượt bán của thị trường. Hai chỉ báo phổ biến nhất là RSI và Stochasics. Cả 2 chỉ báo này hoạt động trên phạm vi 0 đến 100. Đối với RSI, số ghi trên mức 70 thì ở vùng vượt mua trong khi số ghi dưới mức 30 thì ở vùng vượt bán. Các giá trị vượt mua và vượt bán của Stochastics là 80 và 20. Sự phân kỳ của chỉ báo dao động thường cảnh báo sự đảo chiều thị trường.

8. Nhận biết các tín hiệu cảnh báo

Chỉ báo đường trung bình chuyển động hội tụ – phân kỳ MACD (do Gerald Appel phát triển) kết hợp hệ thống giao cắt các MA với các yếu tố vượt mua/vượt bán của một chỉ báo dao động. Một tín hiệu mua xuất hiện khi đường chạy nhanh hơn giao cắt lên trên đường chạy chậm hơn và cả hai đường nằm dưới mức 0. Một tín hiệu bán xuất hiện khi đường chạy nhanh hơn giao cắt xuống dưới đường chạy chậm hơn từ trên đường số 0. Các tín hiệu tuần ưu tiên hơn các tín hiệu ngày. Chỉ báo MACD Histogram biểu thị sự chênh lệch giữa 2 đường MA này và cho những cảnh báo sớm hơn về sự thay đổi xu hướng. Nó được gọi là “Histogram” bởi vì các thanh dọc được sử dụng để biểu thị sự chênh lệch giữa 2 đường MA trên đồ thị.

9. Xác định có phải xu hướng hay không

Đường chỉ số xu hướng trung bình ADX giúp xác định thị trường có xu hướng hay không. Nó đo mức độ xu hướng trong thị trường. Đường ADX chạy lên cho thấy sự hiện diện của một xu hướng mạnh. Đường ADX chạy xuống cho thấy sự hiện diện của một thị trường không có xu hướng rõ ràng. Đường ADX chạy lên giống như các đường trung bình chuyển động; đường ADX chạy xuống giống như các chỉ báo dao động. Bằng cách đánh dấu hướng của đường ADX, có thể xác định cách giao dịch và bộ chỉ báo nào là phù hợp nhất đối với hoàn cảnh thị trường hiện tại.

10. Nhận biết các dấu hiệu xác nhận

Khối lượng hay tính thanh khoản thường dùng như một dấu hiệu xác nhận khi thị trường vào sóng. Trong một xu hướng tăng, khối lượng thường tăng dần và thanh khoản cải thiện để khẳng định xu hướng vẫn tiếp tục và chưa có dấu hiệu kết thúc, nếu giá tăng nhưng thanh khoản giảm dần thì có thể xu hướng tăng giá hiện tại tạm thời điều chỉnh hoặc có thể sắp chấm dứt quá trình tăng.

Theo Tri Thức Trẻ