Chiến lược giao dịch hiệu quả với mô hình Harmonic

Các mô hình harmonic là một trong những chiến lược giao dịch nâng cao nhưng không có nghĩa là nó quá khó, không thể tiếp cận được. Các mô hình Harmonic tỏ ra khá hiệu quả trong bất kỳ thị trường nào, kể cả thị trường chứng khoán, Forex, hàng hóa, và phái sinh. Điều quan trọng là chúng ta chưa thể thuộc làu từng mô hình để giao dịch cho thực sự hiệu quả.

Bài viết ngày hôm nay sẽ cung cấp cho các bạn một số kiến thức về mô hình Harmonic cũng như cách tiếp cận nó dễ dàng và hiệu quả. Hy vọng sau khi đọc xong bài viết này, những trader nào mong muốn sử dụng mô hình harmonic đều có thể áp dụng dụng vô tư mà không cần suy nghĩ nữa.

Đối với trường phái Harmonic này, chúng ta chỉ cần phân biệt 8 mô hình cơ bản này là đủ, còn các mô hình khác có thể tìm hiểu thêm:

1. Gartley

2. Butterfly (con bướm)

3. Crab (con cua)

4. Bat (con dơi)

5. Shark (con cá mập)

6. Cypher

7. ABCD

8. 3 Drive

Chỉ với 8 mô hình này, anh em đã có thể giao dịch hiệu quả rồi.

TƯ DUY GIAO DỊCH KHI SỬ DỤNG CÁC MÔ HÌNH HARMONIC

Biết cách sử dụng các mô hình harmonic sẽ giúp bạn có nhiều lợi ích. Cụ thể, sẽ là một gợi ý hoặc là một bằng chứng quan trọng về sự đảo chiều xu hướng. Bình thường thì bằng nhiều phương pháp, chúng ta có thể xác định được sự đảo chiều, nhưng phải chờ có một tín hiệu sơ khởi, một tín hiệu khởi đầu cho sự đảo chiều đó. Harmonic sẽ cung cấp cho bạn những tín hiệu như vậy.

Thành thử, các mô hình Harmonic không phải là chén thánh, không phải cứ đúng tỷ lệ theo mô hình là chắc chắn giá sẽ đảo chiều. Đó là lý do phần lớn các trader áp dụng Harmonic không đúng cũng như xa rời nó vì cảm thấy nó không hiệu quả.

Harmonic muốn sử dụng đúng cách, cần phải kết hợp bối cảnh của thị trường và tín hiệu xác nhận từ các yếu tố khác như price action, volume, hoặc thậm chí là các chỉ báo.

Harmonic không phải là không chính xác, mà nó cần một sự xác nhận để chính xác.

VẼ CÁC MÔ HÌNH HARMONIC NHƯ THẾ NÀO?

Bạn có hai cách, một là tự vẽ (tôi thích cách này hơn, vì nó gúp tôi chủ động và cảm nhận tốt hơn về xác suất thành công của mô hình Harmonic). Hai là bạn sử dụng indicator vẽ sẵn cho bạn nếu phát hiện có mô hình (ai cần thì comment)

Chúng ta sẽ sử dụng công cụ vẽ trong tradingview tại đây:

chien-luoc-giao-dich-hieu-qua-voi-mo-hinh-harmonic-2.

TỶ LỆ CỦA MÔ HÌNH CON BƯỚM

Trong các mô hình thì mô hình con bướm xuất hiện khá nhiều, do đó, tôi sẽ nói nhiều về mô hình này, các mô hình khác anh em áp dụng tương tự nhé.

Đầu tiên, chúng ta phải xác định cho đúng tỷ lệ các cạnh ABCD dựa vào cạnh XA:

chien-luoc-giao-dich-hieu-qua-voi-mo-hinh-harmonic-3. ​

Đây là mô hình Con bướm tăng.

Không cần phải kéo Fibo làm gì cho mệt, tradingview có sẵn thông số, anh em chỉ cần đo cho đúng là được. Cụ thể như sau:

1. Cạnh AB phải bằng 0.786 cạnh XA.

2. Cạnh BC phải bằng 0.382 – 0.886 cạnh AB.

3. Cạnh CD phải bằng 1.27-1.618 cạnh XA.

Nếu thỏa 3 điều kiện trên thì điểm D chính là gợi ý để bạn vào lệnh LONG. Dễ dàng đúng không.

Ngược lại với mô hình Con bướm giảm chúng ta cũng làm tương tự:

chien-luoc-giao-dich-hieu-qua-voi-mo-hinh-harmonic-4. ​

CHIẾN LƯỢC GIAO DỊCH ÁP DỤNG MÔ HÌNH HARMONIC

Bước 1: Vẽ mô hình bằng công cụ trên Tradingview sao cho đúng tỷ lệ.

chien-luoc-giao-dich-hieu-qua-voi-mo-hinh-harmonic-5.

Như bạn đã thấy trên hình, các tỷ lệ đều đúng chuẩn của mô hình con bướm:

1. Cạnh AB = 0.856 cạnh XA

2. Cạnh BC = 1.044 cạnh AB

3. Cạnh CD = 1.573 cạnh XA

Như vậy, chúng ta đã có thể BUY được trong tình huống này.

Tín hiệu xác nhận trong tình huống này cũng chính là cây nến tạo cạnh CD. Bởi lẽ đây là một cây giảm ảo, kèm đuôi dài ở bên dưới, trader nhỏ lẻ đã quá hoảng loạn và bán tháo trong khi dòng tiền lớn đang tích cực gom mua từ họ và đẩy giá lên tạo đuôi nến khá dài. Vào lệnh BUY ở đây khá hợp lý.

Bước 2: Đặt stoploss cho hợp lý

chien-luoc-giao-dich-hieu-qua-voi-mo-hinh-harmonic-6.

Bước 3: Đặt takeprofit theo Fibonacci

chien-luoc-giao-dich-hieu-qua-voi-mo-hinh-harmonic-7.
Chúng ta sẽ có hai takeprofit:

1. Takeprofit thứ nhất sẽ bằng vớ stoploss.

2. Takeprofit thứ hai sẽ là mức 0.618 kẻ từ cạnh CD.

chien-luoc-giao-dich-hieu-qua-voi-mo-hinh-harmonic-8.

Tôi vừa trình bày xong cách sử dụng mô hình Harmonic để giao dịch hiệu quả. Anh em có quan tâm đến mô hình này xin mời comment bên dưới để thảo luận thêm. Lucky Trading!


Nguồn: https://traderviet.com/threads/chien-luoc-giao-dich-hieu-qua-voi-mo-hinh-harmonic.19455/

VPB – Cần phải vượt 27 để quay trở lại Trend tăng giá

Hôm nay 19/09/2018 là một ngày giao dịch rất tốt với VPB, cổ phiếu có mức tăng giá tốt, thanh khoản vượt trội gấp 2 lần trung bình giao dịch 5 ngày gần đây. Tuy nhiên VPB cần phải vượt giá 27 với khối lượng giao dịch mạnh ước chừng lớn hơn 10 triệu cổ phiếu để thoát khỏi kênh giảm giá dài hạn.

Chúng ta cùng chờ xem nhé.

Tuy nhiên trong ngắn hạn VPB sẽ chạy được từ giá 25 lên tới 27.

Các mẫu hình giá phổ biến trong Phân Tích Kỹ Thuật

Về nguyên tắc của các mẫu hình giá kỹ thuật (Chart Patterns):

  • “ Lịch sử sẽ lặp lại chính nó” như trong phần giả định cơ sở của PTKT, tức hành vi và tâm lý của con người là không thay đổi hoặc thay đổi rất chậm, cái này là thực tế không chỉ ở Việt Nam mà TT quốc tế cả trăm năm này rồi nên mới có kiểu áp dụng các mô hình giá vào việc phân tích.
  • Bản chất của các mẫu hình giá kỹ thuật đều dựa vào nền tảng của cách xác định xu hướng giá chứng khoán để từ đó tìm các vùng Break Out, Down. Khoảng thời gian phía trước cho đến các vùng Break Out, Down đó được các nhà PTKT quan sát từ nhiều biểu đồ, lịch sử gần trăm năm rút ra các mẫu hình giá có khả năng lặp lại nhiều lần và đặt theo các tên gọi như Vai Đầu Vai, 2 Đáy, 2 Đỉnh, Cốc tay cầm…, và thực tế trải nghiệm của tác giả cũng đánh giá cao độ tin cậy của một vài mẫu hình giá.

Kênh xu hướng (Price channel)

Ta đã biết ý nghĩa của đường Trendline trong phần trước, về phần kênh xu hướng nó được cấu tạo bởi đường Trendline và đường kẻ song song với nó nối các đỉnh hoặc đáy tùy thuộc vào xu hướng hiện tại.

Ở kênh xu hướng tăng, thì đường U là đường Trendline nối các đáy với nhau, đường CN là đường Channel line song song với đường Trendline và đi qua đỉnh đối diện.

Ngược lại đối với kênh xu hướng giảm, thì đường D là đường Trendline nối các đỉnh với nhau, đường CN là đường Channel line song song và đi qua đáy đối diện.

Chức năng của kênh xu hướng để xác định các vùng hỗ trợ và kháng cự của TT, CP, ngoài ra còn là việc xác định các vùng Break out, Break down của TT hay CP đó.

Trên là ví dụ về kênh xu hướng của HNXindex biến động giai đoạn giữa cuối năm 2016 đến nay

Nối đỉnh 1 và 3 ta xác định được Trendline của xu hướng giảm, kẻ đường song song với đường Trendline đi qua đáy 2 tạo thành đường Channel line.

Với kênh xu hướng giảm này ta thấy ngoài vùng 4 là vùng kháng cự của TT thì vùng 5,6 cũng trở thành vùng hỗ trợ. Tại vùng 7 TT đã có những phiên break out để thoát khỏi kênh xu hướng giảm.

Mẫu hình Vai Đầu Vai (Head and Shoulders)

Đây là dạng mẫu hình giá đảo chiều của xu hướng chính trước đó.

Đường U là đường Trendline thể hiện xu hướng tăng trước đó.

Đỉnh 1 được gọi là vai trái, đỉnh 2 là bắt buộc phải là đỉnh cao nhất của mô hình này, và đỉnh 3 thấp hơn gọi là vai phải.

Đường 4 gọi là đường neckline, đối với hình vẽ trên thì đây tương ứng với đường hỗ trợ ( ngược lại đối với mô hình VĐV ngược thì đường neckline là kháng cự), vùng 5 là vùng mà giá test lại đường hỗ trợ 4 và sau đó bị phá ( break down).

Mô hình Vai Đầu Vai bao gồm có 2 loại : Đầu và 2 vai đỉnh để xác định điểm ra và đầu và 2 vai đáy để xác định điểm vào.

Trên chart là ví dụ về mô hình VĐV ngược của Vnindex vào thời điểm cuối tháng 04/2016

Đường D thể hiện xu hướng giảm của TT.

Đáy 1 là vai trái, đáy 2 cũng là đáy thấp nhất của TT ở mức điểm 510-520, đáy 3 cao hơn và là vai phải của mô hình.

Đường 4 là đường neckline cũng là đường kháng cự của mô hình, tại vùng 5 là vùng mà TT đã break out khỏi đường kháng cự cũng như hình thành mô hình VĐV ngược.

Một điều cần để ý khi sử dụng mô hình này hay đối với các mô hình kỹ thuật khác là kết hợp với khối lượng GD (volume), như quan sát trên Chart thì tại vùng mà TT break out thì tương ứng các cột volume cũng tăng cao hơn so với trung bình volume 1 tháng.

Mẫu hình Cốc và Tay Cầm ( Cup with Handle)

Đây là mẫu hình được William O’Neil (một nhà đầu tư nổi tiếng với PP đầu tư CANSLIM) phát kiến ra. Khác với mẫu hình VĐV trình bày ở trên là mô hình đảo chiều thì mô hình này chỉ để tìm điểm Vào của TT hay CP và là 1 mô hình tiếp diễn xu hướng tăng trước đó.

Xu hướng 1 là xu hướng tăng trước đó của TT, sau khi tạo đỉnh tại 2 thì TT biến động theo dạng chiếc cốc (3), và tạo đỉnh cốc tại 4, sau đó TT biến động nhẹ tạo hình dạng giống chiếc tay cầm của cốc.

Đường N là đường neckline của mô hình và cũng là đường kháng cự, TT break out đường kháng cự tại vùng 5.

Chart trên là ví dụ về chart tháng của Vnindex

Dường U thể hiện xu hướng tăng trước đó của TT, sau khi tạo đỉnh 1 thì TT biến động theo dạng cốc 2, và tạo đỉnh tại 3, sau đó TT biến động theo dạng tay cầm 4.

Đường N là đường neckline của TT nối 2 đỉnh 1 và 3 và cũng là đường kháng cự của TT. Vùng 5 là vùng mà TT break out sau khi vượt qua đường kháng cự N để hoàn thành mô hình cốc tay cầm và yếu tố để gia tăng độ tin cậy của mô hình là volume trung bình vùng 5 là cao hơn so với trung bình 12 tháng (năm).

Một vài lưu ý thêm với mô hình này là:

  • Thời gian hình thành tay cầm thông thường nhỏ hơn 1/3 so với thời gian hình thành cốc.
  • Và việc tay cầm có thể được xác định bằng các mẫu hình giá ngắn hạn như cờ … hay đo bằng tỷ lệ Fibonacci, một tay cầm điều chỉnh không quá 50% so với xu hướng tăng của cốc phía trước( các bạn có thể tự tham khảo thêm).

Mẫu hình 2 Đáy (Double Bottom), 2 Đỉnh (Double Top)

Mẫu hình 2 đáy, 2 đỉnh là một mẫu hình đảo chiều có độ tin cậy khá cao, được hình thành sau 1 xu hướng giảm (2 Đáy) và xu hướng tăng (2 Đỉnh).

Ở mô hình 2 Đáy, xu hướng trước đó là xu hướng giảm, tại vùng B1 là đáy 1, B2 là đáy 2, đường  ngang N nối đỉnh giữa 2 đáy là đường neckline và cùng là đường kháng cự của TT, vùng O là vùng mà TT Breakout. Tương tự như vậy ở mô hình 2 Đỉnh.

Thời gian hình thành mẫu hình này ít nhất 1 tháng trở lên.

Ví dụ về mẫu hình 2 Đáy (Double Top) ở Vnindex giai đoạn tháng 06/2015

Các mẫu hình Tam giác: Tam giác hướng lên (Ascending Triangle), Tam giác hướng xuống (Descending Triandle), Tam giác cân ( Symmetrical Triangle)

Các mẫu hình tam giác là các mẫu hình tiếp diễn của xu hướng chính trước đó.

Cũng giống như các mẫu hình khác, thì các mẫu hình tam giác được hình thành dựa trên khái niệm về kháng cự và hỗ trợ.

Trên chart là ví dụ về mẫu hình tam giác hướng lên của Vnindex thời điểm hiện tại

Trong đó đường U là xu hướng tăng trước đó của TT, sau khi tạo đỉnh 2 và đáy 3, thì đường ngang nối đỉnh 2 trở thành kháng cự của TT và tạo các vùng đỉnh 3,4,5. Sau đó TT điều chỉnh và đường chéo nối đáy 1,3 trở thành đường hỗ trợ của TT tại đáy 7.

TT lên lại vùng kháng cự cũ và đã có những phiên Break out tại 8. Một điều lưu ý đối với trường hợp này là TT break out nhưng yếu tố khối lượng (volume) lại không cao quá trung bình nên khả năng cao TT sẽ test lại vùng hỗ trợ, tức vùng kháng cự cũ (680-690).

Một vài lưu ý với mẫu hình tam giác:

  • Thời gian hình thành một mẫu hình tam giác kéo dài từ 1 tháng đến dưới 6 tháng, và độ tin cậy của các mẫu hình này theo kinh nghiệm của tác giả thì không cao bằng các mẫu hình trình bày ở trên.
  • Yêu cầu phải có ít nhất 2 đáy đối với các đường ngang là hỗ trợ của mô hình tam giác hướng xuống và 2 đỉnh là kháng cự của mô hình tam giác hướng lên trước các điểm đảo chiều.

Trên là một vài mẫu hình giá mang tính chất trung hạn và hay xuất hiện ở TT Việt Nam và có độ tin cậy tương đối cao, tất nhiên còn nhiều mẫu hình giá khác, nhưng độ xuất hiện không nhiều và nhiều mẫu hình thì mang tính chất ngắn hạn nên độ tin cậy chưa cao nên tác giả không đưa vào.


Nguồn: http://chungkhoanblog.com/chung-khoan/phan-tich-chung-khoan/phan-tich-ky-thuat/cac-mau-hinh-gia-pho-bien-trong-phan-tich-ky-thuat/

Bollinger Bands là gì? Cách sử dụng như thế nào?

1/ BOLLINGER BANDS LÀ GÌ?

Bollinger band là chỉ báo kỹ thuật được phát triển bởi John Bollinger vào những năm 80 của thế kỷ 20. Đường bao Bollinger được xem là một chỉ sô cho phép người dùng so sánh độ biến động ( volatility) và mức giá tương đối theo thời gian.  được hình thành dựa trên đường trung bình động Moving Average (MA) và có cấu tạo gồm 3 thành phần chính:

  • Đường trung bình MA: thông thường mặc định là 20 phiên (20 period).
  • Dải trên (Upper band): được tính toán dựa vào MA (20) + độ lệch chuẩn, thông thường là 2, nằm ở trên MA.
  • Dải dưới (Lower band): được tính toán dựa vào MA (20) – độ lệch chuẩn, thông thường là 2, nằm ở dưới MA.
Bollinger Bands là gì Cách sử dụng như thế nào - ảnh 1

Cấu tạo chỉ báo bollinger bands

2/ ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐƯỜNG BOLLINGER BANDS

Đường bollinger band có một số đặc điểm chính mà cần lưu ý như sau:

  • Giá thường xuyên dao động trong đường bollinger band. (các cây nến chủ yếu nằm trong 2 đường trên và dưới)
  • Giá đóng cửa thường nằm trong bollinger band, nếu nằm ngoài cần chú ý nhé.
  • Giá có xu hướng điều chỉnh về xung quanh đường trung bình.

3/ CÁCH MỞ BOLLINGER BANDS Ở 2 SÀN POLONIEX VÀ BITTREX:

Điều này khá căn bản. Tuy nhiên, bài viết mình là dành cho người mới, do đó mình sẽ hướng dẫn chi tiết nhất có thể.

Đối với Poloniex, để mở chỉ báo bollinger bands, các bạn thao tác như sau: Vào chart coin muốn theo dõi, chọn vào hình bánh răng cưa ở góc trái chart, tích vào SMA Period + Bollinger band.

Bollinger Bands là gì Cách sử dụng như thế nào - ảnh 2

Cách mở chỉ báo bollinger bands tại poloniex

Đối với Bittrex, các bạn thao tác như sau: Vào chart coin, chọn Studies -> chọn vào Bollinger Band, sau đó nhấn Creat.

Bollinger Bands là gì Cách sử dụng như thế nào - ảnh 3

Cách mở chỉ báo bollinger band tại bittrex

3/ CÁCH SỬ DỤNG ĐƯỜNG BOLLINGER BAND TRONG TRADE COIN

#1 KHI GIÁ CÓ XU HƯỚNG PHÁ VỠ BOLLINGER BANDS:

Bollinger Bands là gì Cách sử dụng như thế nào - ảnh 4

Giá dù tăng hay giảm đều có xu hướng điều chỉnh về SMA

Như trên hình các bạn có thể thấy, giá luôn có xu hướng điều chỉnh về đường trung bình SMA. Đặc biệt là khi giá đã phá vỡ dải trên hoặc dải dưới.

Nhận biết điều này là hết sức quan trọng. Ví dụ tại thời điểm bạn xem chart 1 coin, giá coin đó đang ở có xu hướng giảm và có thể vượt ra dải boll dưới, điều lúc này bạn cần làm là dự đoán giá có thể vượt quá dải dưới đến bao nhiêu. Để dự đoán được, bạn cần kết hợp xem xét lực buy/sell tại thời điểm đó. Đặc biệt bạn cần chú ý đến giá tại boll dưới, có các cản lớn tại mức giá đó không. Nếu có cản lớn bên sell, mà lực mua ít, khả năng cao là giá sẽ tiếp tục giảm sâu. Ngược lại, nếu cản sell không lớn, nhưng lực buy lại mạnh, giá có thể không rớt qua boll dưới mà phải điều chỉnh thêm.

Lúc này, thông thường bạn cần đặt một lệnh mua. Chú ý:

  • Trước khi vào lệnh, cần xem tổng thể xu hướng giá đang là tăng (uptrend) hay giảm (downtrend).
  • Nên chia tổng số tiền bạn dự tính vào lệnh ra: 15% vào tại mức giá ở đường boll dưới, phần còn lại rải ra “bắt đáy” khi giá rớt xuống boll dưới.

Vậy khi nào nên bán ra? Nếu bạn đặt mua một lệnh ở boll dưới. Và như mình đã nói, giá khi vượt boll nó sẽ điều chỉnh dần về SMA ở giữa. Vậy điểm chốt lời đầu tiên chính là phần giá ở SMA. Tuy nhiên phần này bạn chỉ nên chốt 15% lúc đầu mua ở giá cao. Nếu bạn mua đc giá thấp hơn vượt quá dải dưới, hãy kiên nhẫn đợi dấu hiệu để cân nhắc xem giá có thể vượt lên dải trên không.

#2 KHI BOLLINGER BÁO HIỆU GIAI ĐOẠN THẮT CỔ CHAI, HAY SIDEWAY

Điều này khá thú vị. Đây là một mẹo mà nhiều bạn biết rồi, mình nghĩ vậy. Nhưng không phải ai cũng chú ý và bắt trúng thời điểm vào lệnh tốt nhất. Sideway, hay thắt cổ chai, có thể hiểu là giai đoạn mà giá coin không có sự tăng giảm quá nhiều, nó cứ “đi ngang”, biên động giá dao động nhỏ. Khi đó bollinger sẽ có đặc điểm là: 2 dải trên và dải dưới bó hẹp lại, thu hẹp khoảng cách với SMA.

Bollinger Bands là gì Cách sử dụng như thế nào - ảnh 5

“Thắt cổ chai” – dấu hiệu khá đẹp trong trade coin

Thông thường, giai đoạn này thường là giai đoạn mà “cá mập” gom hàng. Giá được khống chế (bằng cách dựng tường buy và sell), do đó không có sự thay đổi mạnh. Giai đoạn này còn được gọi là giai đoạn tích lũy. Dấu hiệu sẽ càng rõ hơn nếu giá của coin đang đạt đáy trong khoảng 1 – 2 tuần hoặc hơn (tùy vào mục tiêu của bạn là ngắn hạn, trung hạn hay dài hạn).  Sau khi giai đoạn này kết thúc, giá thường có sự tăng hoặc giảm mạnh. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng với thị trường cryptocurrency hiện nay, đa phần giai đoạn sideway đều cho giá tăng. 😀

Để giảm thiểu rủi ro, trong quá trình phân tích coin, khi nhìn thấy sideway, bạn có thể đợi dấu hiệu tăng giá (hoặc giảm) để đưa ra quyết định, cụ thể:

  • Có nến báo hiệu đảo chiều (búa, búa ngược,…)
  • Có các nến tăng liên tục vượt boll trên.
  • Giải boll bắt đầu mở rộng.
  • Lực buy tăng mạnh
  • … một số phân tích khác, mình sẽ đề cập đến ở bài viết sau.

Trên đây là một số kỹ năng phân cơ bản mà người mới có thể làm quen khi sử dụng bollinger band khi phân tích coin. Ngoài ra, các bạn có thể tìm hiểu thêm về cách kết hợp Bollinger Bands là gì với mô hình 2 đáy, kết hợp với chỉ báo MACD, RSI… Chúc bạn thành công!

Xác định xu hướng, hỗ trợ và kháng cự trong Phân tích kỹ thuật

Đầu tiên khi vào TT phải xác định được Trend ( xu hướng)

Mọi thông tin phản ánh vào giá, nhưng giá ko vận động ngẫu nhiên mà nó vận động theo xu hướng.

Khi giá lê lết đi lên thì gọi là uptrend ( xu hướng tăng), và đâm đầu lao xuống gọi là downtrend (xu hướng giảm), giá vận động trong biên độ hẹp được gọi là sideway (xu hướng đi ngang) trước khi nó bốc đầu hay đâm đầu. Và PTKT sinh ra để tìm kiếm Trend( với chứng khoán Việt Nam thì chỉ có uptrend, hay đôi lúc cả TT sideway nữa là kiếm được tiền thôi).

Tất nhiên là thời gian quan sát phải đủ dài thì mới xác định được Trend, tùy vào khung thời gian quan sát đó mà xác định Trend ngắn hạn, trung hạn, dài hạn và dựa vào đó để phân bổ danh mục cho phù hợp. Khung thời gian càng dài thì đánh giá Trend càng chuẩn,và Trend càng bền, nhược điểm là độ trễ lớn, Việt Nam thì chỉ coi dailly và weekly thôi, còn các khung thời gian dài như yearly thì data chưa đủ, vì TT Việt Nam mới chỉ bắt đầu từ năm 2000, data trong phiên thì TT Việt Nam thanh khoản chưa đủ cao để mà đánh giá chuẩn xác được.

Khi tham gia TT chúng ta thường thấy nhiều người tự nhận là những chuyên gia lướt sóng, có thể lướt trên mọi thể loại sóng từ lớn cho đến bé tí ti.chỗ nào cũng có mặt họ cả. Nói vui chứ quan điểm của tác giả, là khi đã xác định được trend thì nên chơi bao nhiêu tiền, và khi TT đã gãy thì đón chúng ta phía trc là những con sóng lăn tăn(pullback) thì chúng ta có chấp nhận đứng ngoài hay không, hoăc chấp nhập tham gia tối đa bao nhiêu tiền (50% chẳng hạn, tùy người). Việc kết hợp phân bổ nguồn vốn với phân tích kỹ thuật sẽ hạn chế nhiều rủi ro khi tham gia TT, bởi ta biết trong phần trước rằng PTKT chỉ mang tính xác suất.

  • Xu hướng tăng thì đáy sau cao hơn đáy trước, ngược lại xu hướng giảm thì đỉnh sau thấp hơn đỉnh trước.
  • Nối các điểm đáy với nhau (uptrend), hoặc các đỉnh với nhau (downtrend) sẽ trở thành đường trendline của xu hướng đó ( qua càng nhiều điểm thì trend đó càng mạnh).

Muốn kiếm tiền thì rõ ràng phải có Trend, mà PTKT sinh ra để tìm Trend. Nhưng không lẽ trong con sóng năm ngoái (2016) đến tháng 09 ta kẻ đường xu hướng rồi nói rằng, ta đang ở uptrend rồi hô hào mua mạnh thôi ( cái đó ai không biết nữa), mà bây giờ nhìn lại thì nếu lúc đó mới bắt đầu tham gia thì còn gì mà ăn nữa, thực sự là gặm xương không thôi.

 Và “Hỗ trợ và Kháng cự” sinh ra để giúp ta nhận diện sớm được trend.

Khi giá lên mà đụng phải cái vùng nào đó mà lượng cung hàng bán ra nhiều rồi giá giảm xuống gọi là kháng cự (resistance), khi giá xuống mà chạm cái vùng nào đó mà lượng cầu tham gia rồi đẩy giá bật lại gọi là hỗ trợ (support). Nói chung là Đụng,Chạm càng nhiều thì nó càng cứng , lý thuyết là như thế và thực tế chắc là cũng như vậy, mọi người thực hành nhiều đi là biết, hehe, ý mình ở đây là cái vùng hỗ trợ, kháng cự đó càng mạnh.

Một vài lưu ý của hỗ trợ và kháng cự:

  • Hỗ trợ, kháng cự sinh ra để bị phá, phá kháng cự thì ném tiền vào(mua mạnh) các phiên này gọi là break out, phá hỗ trợ thì ngược lại, cần 1 lượng lớn CP bán ra (break down).
  • Khi vùng kháng cự bị phá nó sẽ trở thành vùng hỗ trợ mới, và ngược lại.

Ví dụ về VNindex ( vùng kháng cư được bôi đỏ, vùng hỗ trợ màu xanh)

Vùng 1 gọi là vùng break out khỏi xu hướng giảm phía trước của TT( từ đỉnh TT cuối 2009 đến đầu 2012), vùng 2, giá thoát khỏi vùng kháng cự của TT 510-520, và vùng này sau đó đã trở thành vùng hỗ trợ mạnh cho TT ở vùng 3 và các vùng tiếp theo trên biểu đồ. Vùng 4 (07/2016) là vùng TT break out khỏi vùng kháng cự lịch sử của TT 630-640.

Về vẽ trend, đường cản… thì với tác giả nên vẽ qua càng nhiều điểm càng tốt, khi nhận định thì nên nhận định theo vùng chứ đừng nhận định tại 1 điểm nhất định.

Nói chung nhiều cách để xác định hỗ trợ, kháng cự.. nhưng nên đơn giản 1 chút, chứ đừng cái gì cũng vẽ, cũng đưa vào, thì nhìn thật rối mắt.

Ngoài việc kẻ trendline, đường ngang để xác định hỗ trợ kháng cự ra, thì còn có 1 PP khác để xác định trend, hỗ trợ, kháng cự đó là dùng đường MA.

Vậy MA(moving average) là gì, MA là đường trung bình, vấn đề là trung bình của cái gì, mình dân CK thì rõ ràng là trung bình của giá CK trong n ngày. Có nhiều loại MA, nhưng tác giả chỉ dùng loại đơn giản nhất là SMA, tức là trung bình cộng của giá.

Việc dùng thông số n nào là tùy thuộc mỗi người thấy phù hợp, bản thân tác giả hay dùng MA(50), có 1 số thông số khác như MA(5), MA(20)… tương ứng với 1 tuần, 1 tháng GD.

  • Nếu giá nằm trên đường MA thì TT,CP đó đang thể hiện xu hướng tăng và ngược lại, và đường MA còn được dùng để xác định các hỗ trợ và kháng cự của TT,CP đó.
  • Giống như việc xác định trend ở trên, thì việc dùng thông số càng dài thì việc đánh giá trend càng chuẩn, nhưng độ trể lại lớn hơn so với việc dùng MA ngắn.
  • Có thể kết hợp nhiều đường MA trên cùng khung chart, để xác định xu hướng ngắn, trung, dài hạn của TT.

Chart trên là việc ví dụ kết hợp MA(50) vào việc xác định trend của VNindex.

Vùng 1 là vùng breakout của TT khỏi xu hướng giảm phía trước khi giá tăng từ dưới lên và nằm trên MA(50), và MA(50) lúc này không còn là kháng cự nữa mà chuyển thành vùng hỗ trợ như vùng 2 và các vùng xanh tiếp theo.

Tại vùng 3, TT giao dịch tại vùng hỗ trợ MA(50) 1 thời gian, nhưng khác với các lần khác thì giá không bật lại mà lại giảm xuống, TT gãy xu hướng tăng và chuyển sang xu hướng mới (sideway hoặc downtrend), và MA(50) lúc này trở thành vùng kháng cự của TT như vùng 4, tại vùng 5, TT đã break out khỏi xu hướng sideway phía trước, và đến thời điểm cuối tháng 01/2017 vẫn tiếp tục xu hướng tăng đó.

Rõ ràng việc vẽ trendline, hỗ trợ, kháng cự thì rất đơn giản, và ít mất thời gian, 1 phút là xong hay việc dùng MA thì cứ măc định thế, đôi lúc nhiều người không cần vẽ cũng hình dung ra được. Như ta biết, thì việc vẽ trendline thì mỗi người mỗi kiểu do cách xác định khung thời gian hay việc không có 1 thông số MA nhất quán do mỗi người lựa chọn thông số phù hợp, nhưng quan trọng nhất ở đây là nguyên tắc giao dịch, như trong đề cập phần trước cần có sự tuân thủ nguyên tắc của mình đặt ra để Vào,Ra khi TT hay CP vượt kháng cự, gãy hỗ trợ mà không có sự thay đổi khi lại vẽ 1 đường trendline khác hay hiệu chỉnh 1 thông số MA dài hơn…để bảo vệ cho quan điểm của mình (kế hoạch chính khi vào CP đó).

Tổng kết lại, bạn cũng có thể xác định các vùng để tham gia( break out) hay thoát khỏi TT (break down), tuy nhiên nên kết hợp với các yếu tố khác, khối lượng giao dịch (volume) là yếu tố cần thiết để xác nhận cho các CP đó khi break out có độ tin cậy cao hay không. Ngoài ra, còn việc kết hợp với các mẫu hình giá hay chỉ báo kỹ thuật vào để tìm các vùng vào,ra TT để gia tăng hiệu quả đầu tư, phần này sẽ được tác giả trình bày trong phần sau.

Nhưng đánh giá của tác giả thì chỉ cần hiểu rõ, thực hành và có nguyên tắc 2 phần này sẽ giúp cho bạn tự tin hơn rất nhiều khi chinh chiến trên TT, mặc dù phần sau bao gồm nhiều mẫu hình giá kỹ thuật hay có rất nhiều các chỉ báo khác nhau, nhưng chúng cũng chỉ giống như vô vàn các loại vũ khí mà thôi, nếu không bỏ thời gian luyện nội lực, chiêu thức thì việc cho bạn 1 vũ khí sắc bén cầm trên tay cũng như không thôi.

Nguồn: http://chungkhoanblog.com/chung-khoan/phan-tich-chung-khoan/phan-tich-ky-thuat/xac-dinh-xu-huong-ho-tro-khang-cu-trong-phan-tich-ky-thuat/

Chỉ số Fractal là gì? Phương pháp giao dịch với Fractal

Mặc dù giá có thể di chuyển một cách ngẫu nhiên, nhưng chúng vẫn tạo ra các mô hình và xu hướng lặp đi lặp lại. Một trong những mô hình cơ bản nhất là fractal. Fractal là các mô hình đảo chiều gồm 05 thanh nến đơn giản. Bài viết này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về Fractal là gì và cách mà bạn có thể áp dụng chúng vào chiến lược trade coin của mình.

Giới thiệu về Fractal

Khi nói đến “Fractal”, mọi người thường nghĩ về một thứ gì đó rất phức tạp. Tuy nhiên, về cơ bản Fractal là một mô hình định kỳ xảy ra trên chu kỳ giá.

Fractals bao gồm 05 thanh nến trở lên. Các quy tắc để xác định fractal như sau:

  • Bearish fractal (fractal hướng giảm) là điểm cao nhất chính giữa trong chuỗi 5 nến.
  • Bullish fractal (fractal hướng lên) là điểm thấp nhất chính giữa trong chuỗi 5 nến.

Dưới đây là 02 ví dụ về Fractal. Lưu ý rằng nhiều mô hình fractal khác có thể xảy ra, nhưng đây là mô hình cơ bản nhất của nó.

Fractal là các lagging indicator (chỉ số chậm) – nghĩa là, một fractal không thể được hình thành cho đến khi chúng ta xác nhận mô hình đảo chiều xuất hiện sau 2 nến. Mặc dù điều này có thể đúng, nhưng hầu hết sự đảo chiều diễn ra trong nhiều nến hơn, vì thế xu hướng sẽ được giữ lâu hơn (như chúng ta sẽ thấy trong ví dụ dưới đây).

Áp dụng Fractal trong trade coin

Hầu hết các nền tảng hiện nay cung cấp fractal như một chỉ báo giao dịch. Điều này có nghĩa là trader không cần phải vẽ và tìm kiếm mô hình. Trader chỉ việc chọn chỉ báo và phần mềm sẽ tự động tìm kiếm chỉ báo đó. Trader đã từng tham gia thị trường sẽ thấy rằng: mô hình này xảy ra khá thường xuyên.

Fractal được sử dụng tốt nhất khi kết hợp với các chỉ báo hoặc hình thức phân tích khác. Một chỉ báo phổ biến được sử dụng với Fractal là Alligator. Đó là một công cụ được tạo ra bằng cách sử dụng nhiều đường trung bình động. Biểu đồ bên dưới cho thấy một xu hướng tăng dài hạn với mức giá chủ yếu nằm bên trên ngưỡng Alligator (đường MA giữa). Do xu hướng đang tăng, tín hiệu tăng có thể được sử dụng để tạo tín hiệu mua.

Bearish Fractal thường được vẽ trên một biểu đồ với một mũi tên hướng lên. Bullish fractal được vẽ bằng một mũi tên hướng xuống. Vì vậy, nếu sử dụng fractal trong một xu hướng tăng trên các nền tảng giao dịch, hãy tìm các mũi tên hướng xuống. Nếu tìm kiếm bearish fractal trong xu hướng giảm, thì bạn nên để ý đến các mũi tên hướng lên.

Đôi khi việc chuyển sang khung thời gian dài hơn sẽ làm giảm số tín hiệu fractal, giúp dễ dàng phát hiện các cơ hội giao dịch.

Hệ thống này cung cấp các điểm vào, nhưng trader có thể tùy chỉnh để kiểm soát rủi ro. Trong trường hợp trên, mô hình không được xác nhận cho đến khi giá đã bắt đầu tăng và chạm mức đáy gần đây. Do đó, một lệnh dừng lỗ có thể được đặt ngay dưới mức đáy đó trước khi thực hiện giao dịch. Nếu tham gia short trade, trong một xu hướng giảm, một lệnh dừng lỗ có thể được đặt trên đỉnh gần đây.

Một chiến lược khác là sử dụng Fractal với Fibonacci retracement. Một trong những vấn đề với fractal là nó xuất hiện quá thường xuyên. Và một trong những vấn đề với Fibonacci là chúng ta nên sử dụng mức retracement nào. Bằng cách kết hợp cả 02, nó sẽ giúp cho ra tín hiệu tốt hơn, vì Fibonacci sẽ chỉ được giao dịch nếu fractal đảo chiều diễn ra.

Các trader cũng có xu hướng tập trung vào giao dịch tại các mức Fibonacci nhất định. Điều này có thể thay đổi tùy theo trader, nhưng nhìn chung trader thích tham gia long trade hơn, trong một xu hướng tăng mạnh và sử dụng mức retracement 61,8%. Fractal có thể được sử dụng cùng với chiến thuật trade coin: chẳng hạn như trader chỉ thực hiện giao dịch nếu fractal đảo chiều xảy ra gần mức retracement 61,8%, khi tất cả các điều kiện khác được đáp ứng.

Trong biểu đồ bên dưới, giá đang trong xu hướng tăng, và sau đó đảo chiều giảm. Giá hình thành đảo chiều fractal gần mức 0.618 của Fibonacci retracement. Một khi fractal hình thành (hai ngày sau khi giá chạm đáy), bạn có thể tham gia long trade với xu hướng tăng dài hạn hơn.

Mọi người cũng có thể sử dụng fractal để tiến hành chốt lời. Ví dụ, nếu tham gia long trade với bullish fractal, trader có thể thoát vị trí khi bearish fractal xảy ra.

Những điều cần lưu ý khi sử dụng fractal

Dưới đây là một vài điều mà bạn cần nhớ khi sử dụng fractal.

  • Chúng là các chỉ báo tín hiệu trễ.
  • Do fractal là rất phổ biến, chúng thường được kết hợp với các chỉ số hoặc chiến lược khác. Không nên sử dụng chúng độc lập.
  • Khoảng thời gian càng dài thì sự đảo chiều càng đáng tin cậy hơn. Điều quan trọng cần lưu ý là khoảng thời gian càng dài, số lượng tín hiệu sẽ càng ít.
  • Tốt nhất là xem xét fractal trong nhiều khung thời gian khác nhau. Ví dụ, chỉ tham gia các giao dịch ngắn hạn với fractal trong xu hướng dài hạn. Như đã thảo luận, tập trung vào các tín hiệu long trade trong xu hướng tăng và tập trung vào các tín hiệu short trade với xu hướng giảm.
  • Hầu hết các nền tảng hiện đều tích hợp fractal trong danh sách chỉ báo.

Kết luận

Fractal có thể là công cụ hữu ích. Nó có thể được sử dụng theo nhiều cách khác nhau, và mỗi trader có thể tìm thấy biến thể của riêng họ, chẳng hạn như kết hợp với chỉ báo Alligator hoặc Fibonacci retracement. Sẽ có người thích và không thích sử dụng fractal. Tuy nhiên, xin lưu ý rằng, mọi người không nên sử dụng fractal một mình mà nên kết hợp nó cùng các chỉ báo khác để đạt được hiệu quả tốt nhất.

Nội dung bài viết, phân tích bao gồm ý kiến cá nhân của tác giả theo điều kiện của thị trường tại thời điểm phân tích. Các nhà đầu tư nên thực hiện nghiên cứu thị trường riêng của mình trước khi tham gia đầu tư. Luôn bám sát dòng chảy dữ liệu của thị trường để có quyết định an toàn và tối ưu. Là một nhà đầu tư bạn luôn hiểu và tự chịu trách nhiệm 100% việc ra quyết định của mình. Thành công là của bạn!

Nguồn: https://pinkblockchain.com/chi-so-fractal-la-gi-phuong-phap-giao-dich-voi-fractal/

Phương pháp giao dịch theo xu hướng kết hợp ADX và một chỉ báo động lượng

TẠI SAO LẠI LÀ ADX KẾT HỢP VỚI RSI

ADX là một chỉ báo tốt như thế nào thì các bạn cũng đã biết rồi, tôi không nhắc lại nhiều nữa nhưng một hai tính chất của ADX mà ta cần phải nhớ đó là mức 25 và độ dốc của ADX. Hai tính chất này làm nên một ADX cực kỳ mạnh mẽ và hữu ích.

Tuy nhiên, hạn chế của ADX là nó chỉ cho chúng ta biết một xu hướng xuất hiện sớm và xác nhận xu hướng đó đi vào trạng thái bền vững, nhưng nó không thể nào nói cho chúng ta biết thông tin về sức mạnh của xu hướng.

Việc nhận biết sức mạnh của xu hướng cực kỳ quan trọng. Ví dụ, nếu xu hướng đang yếu thì việc vào lệnh của chúng ta không có ý nghĩa, không kiếm được lợi nhuận, lỗ phí spread nhiều khi nó lại đang tích lũy đảo chiều mà không hay.

Biết được xu hướng mạnh sẽ cho xác suất thành công cao hơn, kiếm được nhiều lợi nhuận hơn, rủi ro của bạn sẽ giảm đi đáng kể.

Do đó, chúng ta cần thêm 1 công cụ nữa để cung cấp thông tin này, đó là RSI. Dùng như thế nào thì chút nữa chúng ta sẽ nói sau.

Về thông số, chúng ta sẽ sử dụng mặc địch là 14, tôi nhận xét thông số này cho chúng ta thông tin chính xác hơn là tinh chỉnh qua con số khác.

Đối với RSI, chúng ta không dùng 14 mà chuyển qua thông số 20 nhé.

Hệ thống này sử dụng tốt cho xu hướng mạnh ở khung M5 và khung D1, tuy nhiên, bạn vẫn có thể dùng nó cho khung khác tùy thích.

Cuối cùng, chart của chúng ta sẽ như thế này:

1.

HỆ THỐNG ADX VÀ RSI

Như thường lệ, tôi sẽ trình bày theo dạng từng bước cụ thể, và ví dụ lần này là cho lệnh SELL (lệnh BUY nhiều rồi), đối với lệnh BUY chúng ta làm tương tự nhé.

BƯỚC 1: CHỜ ADX TĂNG LÊN MỨC 25

Như đã nói ở bài trước, ADX tăng lên mức 25 thì thị trường mới được xác nhận là có xu hướng. Do đó, điều kiện tiên quyết là ADX phải trên 25, dưới 25 là chuyển chart, không phân tích nữa, giá tăng giảm mặc kệ.

2.

BƯỚC 2: SỬ DỤNG 50 CÂY NẾN ĐỂ XÁC NHẬN XU HƯỚNG

ADX trên 25 chưa đủ, để chắc chắn, ta cần sự xác nhận của nến, đừng quá lệ thuộc vào ADX, nền mới là cái thực tế.

Cách làm như sau: một khi ADX vượt qua mức 25, bạn sẽ lấy 50 cây nến gần nhất để xem xu hướng của chúng thế nào, nến đi lình xình thì rất có thể ADX chỉ báo sai. ADX nó chỉ tính tại thời điểm đó, cái chúng ta cần là một bức tranh lớn.

2 - Copy.

BƯỚC 3: VÀO LỆNH SELL KHI RSI CẮT XUỐNG 30

RSI đóng vai trò đo lường sức mạnh của trend. Khi nó rớt xuống 30, tức là thị trường đang quá bán, xu hướng đang rất mạnh và đó là thông tin chúng ta cần.

Xu hướng đã được xác nhận nhờ ADX và nến, sức mạnh xu hướng được xác nhận nhờ RSI. Việc còn lại là vào lệnh SELL

3.

BƯỚC 4: ĐẶT STOPLOSS TRÊN ĐỈNH XU HƯỚNG VÀ TAKEPROFIT KHI ADX GIẢM VỀ 25

Do chúng ta giao dịch theo xu hướng, nên sẽ đặt stoploss ngay đầu xu hướng, nếu nó break thì xu hướng không tồn tại.

Đối take profit thì chúng ta theo ADX vì ADX chỉ hướng, nếu nó giảm về 25 tức là xu hướng đã kết thúc, không có lý do gì để giữ lệnh nữa

4.

Tôi đã trình bày xong một chiến lược giao dịch dựa vào ADX và RSI. Hy vọng “gả” thành công cho một trader nào đó. Lucky Trading!