Về nguyên tắc của các mẫu hình giá kỹ thuật (Chart Patterns):

  • “ Lịch sử sẽ lặp lại chính nó” như trong phần giả định cơ sở của PTKT, tức hành vi và tâm lý của con người là không thay đổi hoặc thay đổi rất chậm, cái này là thực tế không chỉ ở Việt Nam mà TT quốc tế cả trăm năm này rồi nên mới có kiểu áp dụng các mô hình giá vào việc phân tích.
  • Bản chất của các mẫu hình giá kỹ thuật đều dựa vào nền tảng của cách xác định xu hướng giá chứng khoán để từ đó tìm các vùng Break Out, Down. Khoảng thời gian phía trước cho đến các vùng Break Out, Down đó được các nhà PTKT quan sát từ nhiều biểu đồ, lịch sử gần trăm năm rút ra các mẫu hình giá có khả năng lặp lại nhiều lần và đặt theo các tên gọi như Vai Đầu Vai, 2 Đáy, 2 Đỉnh, Cốc tay cầm…, và thực tế trải nghiệm của tác giả cũng đánh giá cao độ tin cậy của một vài mẫu hình giá.

Kênh xu hướng (Price channel)

Ta đã biết ý nghĩa của đường Trendline trong phần trước, về phần kênh xu hướng nó được cấu tạo bởi đường Trendline và đường kẻ song song với nó nối các đỉnh hoặc đáy tùy thuộc vào xu hướng hiện tại.

Ở kênh xu hướng tăng, thì đường U là đường Trendline nối các đáy với nhau, đường CN là đường Channel line song song với đường Trendline và đi qua đỉnh đối diện.

Ngược lại đối với kênh xu hướng giảm, thì đường D là đường Trendline nối các đỉnh với nhau, đường CN là đường Channel line song song và đi qua đáy đối diện.

Chức năng của kênh xu hướng để xác định các vùng hỗ trợ và kháng cự của TT, CP, ngoài ra còn là việc xác định các vùng Break out, Break down của TT hay CP đó.

Trên là ví dụ về kênh xu hướng của HNXindex biến động giai đoạn giữa cuối năm 2016 đến nay

Nối đỉnh 1 và 3 ta xác định được Trendline của xu hướng giảm, kẻ đường song song với đường Trendline đi qua đáy 2 tạo thành đường Channel line.

Với kênh xu hướng giảm này ta thấy ngoài vùng 4 là vùng kháng cự của TT thì vùng 5,6 cũng trở thành vùng hỗ trợ. Tại vùng 7 TT đã có những phiên break out để thoát khỏi kênh xu hướng giảm.

Mẫu hình Vai Đầu Vai (Head and Shoulders)

Đây là dạng mẫu hình giá đảo chiều của xu hướng chính trước đó.

Đường U là đường Trendline thể hiện xu hướng tăng trước đó.

Đỉnh 1 được gọi là vai trái, đỉnh 2 là bắt buộc phải là đỉnh cao nhất của mô hình này, và đỉnh 3 thấp hơn gọi là vai phải.

Đường 4 gọi là đường neckline, đối với hình vẽ trên thì đây tương ứng với đường hỗ trợ ( ngược lại đối với mô hình VĐV ngược thì đường neckline là kháng cự), vùng 5 là vùng mà giá test lại đường hỗ trợ 4 và sau đó bị phá ( break down).

Mô hình Vai Đầu Vai bao gồm có 2 loại : Đầu và 2 vai đỉnh để xác định điểm ra và đầu và 2 vai đáy để xác định điểm vào.

Trên chart là ví dụ về mô hình VĐV ngược của Vnindex vào thời điểm cuối tháng 04/2016

Đường D thể hiện xu hướng giảm của TT.

Đáy 1 là vai trái, đáy 2 cũng là đáy thấp nhất của TT ở mức điểm 510-520, đáy 3 cao hơn và là vai phải của mô hình.

Đường 4 là đường neckline cũng là đường kháng cự của mô hình, tại vùng 5 là vùng mà TT đã break out khỏi đường kháng cự cũng như hình thành mô hình VĐV ngược.

Một điều cần để ý khi sử dụng mô hình này hay đối với các mô hình kỹ thuật khác là kết hợp với khối lượng GD (volume), như quan sát trên Chart thì tại vùng mà TT break out thì tương ứng các cột volume cũng tăng cao hơn so với trung bình volume 1 tháng.

Mẫu hình Cốc và Tay Cầm ( Cup with Handle)

Đây là mẫu hình được William O’Neil (một nhà đầu tư nổi tiếng với PP đầu tư CANSLIM) phát kiến ra. Khác với mẫu hình VĐV trình bày ở trên là mô hình đảo chiều thì mô hình này chỉ để tìm điểm Vào của TT hay CP và là 1 mô hình tiếp diễn xu hướng tăng trước đó.

Xu hướng 1 là xu hướng tăng trước đó của TT, sau khi tạo đỉnh tại 2 thì TT biến động theo dạng chiếc cốc (3), và tạo đỉnh cốc tại 4, sau đó TT biến động nhẹ tạo hình dạng giống chiếc tay cầm của cốc.

Đường N là đường neckline của mô hình và cũng là đường kháng cự, TT break out đường kháng cự tại vùng 5.

Chart trên là ví dụ về chart tháng của Vnindex

Dường U thể hiện xu hướng tăng trước đó của TT, sau khi tạo đỉnh 1 thì TT biến động theo dạng cốc 2, và tạo đỉnh tại 3, sau đó TT biến động theo dạng tay cầm 4.

Đường N là đường neckline của TT nối 2 đỉnh 1 và 3 và cũng là đường kháng cự của TT. Vùng 5 là vùng mà TT break out sau khi vượt qua đường kháng cự N để hoàn thành mô hình cốc tay cầm và yếu tố để gia tăng độ tin cậy của mô hình là volume trung bình vùng 5 là cao hơn so với trung bình 12 tháng (năm).

Một vài lưu ý thêm với mô hình này là:

  • Thời gian hình thành tay cầm thông thường nhỏ hơn 1/3 so với thời gian hình thành cốc.
  • Và việc tay cầm có thể được xác định bằng các mẫu hình giá ngắn hạn như cờ … hay đo bằng tỷ lệ Fibonacci, một tay cầm điều chỉnh không quá 50% so với xu hướng tăng của cốc phía trước( các bạn có thể tự tham khảo thêm).

Mẫu hình 2 Đáy (Double Bottom), 2 Đỉnh (Double Top)

Mẫu hình 2 đáy, 2 đỉnh là một mẫu hình đảo chiều có độ tin cậy khá cao, được hình thành sau 1 xu hướng giảm (2 Đáy) và xu hướng tăng (2 Đỉnh).

Ở mô hình 2 Đáy, xu hướng trước đó là xu hướng giảm, tại vùng B1 là đáy 1, B2 là đáy 2, đường  ngang N nối đỉnh giữa 2 đáy là đường neckline và cùng là đường kháng cự của TT, vùng O là vùng mà TT Breakout. Tương tự như vậy ở mô hình 2 Đỉnh.

Thời gian hình thành mẫu hình này ít nhất 1 tháng trở lên.

Ví dụ về mẫu hình 2 Đáy (Double Top) ở Vnindex giai đoạn tháng 06/2015

Các mẫu hình Tam giác: Tam giác hướng lên (Ascending Triangle), Tam giác hướng xuống (Descending Triandle), Tam giác cân ( Symmetrical Triangle)

Các mẫu hình tam giác là các mẫu hình tiếp diễn của xu hướng chính trước đó.

Cũng giống như các mẫu hình khác, thì các mẫu hình tam giác được hình thành dựa trên khái niệm về kháng cự và hỗ trợ.

Trên chart là ví dụ về mẫu hình tam giác hướng lên của Vnindex thời điểm hiện tại

Trong đó đường U là xu hướng tăng trước đó của TT, sau khi tạo đỉnh 2 và đáy 3, thì đường ngang nối đỉnh 2 trở thành kháng cự của TT và tạo các vùng đỉnh 3,4,5. Sau đó TT điều chỉnh và đường chéo nối đáy 1,3 trở thành đường hỗ trợ của TT tại đáy 7.

TT lên lại vùng kháng cự cũ và đã có những phiên Break out tại 8. Một điều lưu ý đối với trường hợp này là TT break out nhưng yếu tố khối lượng (volume) lại không cao quá trung bình nên khả năng cao TT sẽ test lại vùng hỗ trợ, tức vùng kháng cự cũ (680-690).

Một vài lưu ý với mẫu hình tam giác:

  • Thời gian hình thành một mẫu hình tam giác kéo dài từ 1 tháng đến dưới 6 tháng, và độ tin cậy của các mẫu hình này theo kinh nghiệm của tác giả thì không cao bằng các mẫu hình trình bày ở trên.
  • Yêu cầu phải có ít nhất 2 đáy đối với các đường ngang là hỗ trợ của mô hình tam giác hướng xuống và 2 đỉnh là kháng cự của mô hình tam giác hướng lên trước các điểm đảo chiều.

Trên là một vài mẫu hình giá mang tính chất trung hạn và hay xuất hiện ở TT Việt Nam và có độ tin cậy tương đối cao, tất nhiên còn nhiều mẫu hình giá khác, nhưng độ xuất hiện không nhiều và nhiều mẫu hình thì mang tính chất ngắn hạn nên độ tin cậy chưa cao nên tác giả không đưa vào.


Nguồn: http://chungkhoanblog.com/chung-khoan/phan-tich-chung-khoan/phan-tich-ky-thuat/cac-mau-hinh-gia-pho-bien-trong-phan-tich-ky-thuat/